思い出の中の小さな駅

Hồi ức trong nhà ga nhỏ

高校生のころ、私は小さな村から町の高校まで汽車で通学していました。町までは、たった二両編成の汽車が単線の線路を走っていました。

Khi còn cấp 3, tôi hay đi học từ ngôi làng nhỏ đến trường thị trấn bằng tàu hoả. Đường đến thị trấn, con tàu chỉ vọn vẹn 2 toa chạy trên một đường ray.

広い田んぼの中にポツンと小さな駅が建っていて、駅前には柱もベンチも古びて黒光していました。たった一つのホームへと続く改札口は、木の柵のような形をしていて、一時間に一本しかない汽車が近づいたときだけあけられました。改札口の上に駅員さんが行き先を書いた札をかけながら、「お待たせしました。〇〇行きの改札です。」というと,待合室の人々がぞろぞろと並び始めるのでした。

町には高校がいくつかあったので、朝の駅は大急ぎで自転車を止めて駆け込んでくる学生たちであふれていました。私は毎朝少し早く来て、ある人の姿が見えるのを今か今かとまっていました。彼は私とは別の高校の一年先輩で、話をしたこともなかったのですが、なぜか気になって仕方がなかったのです。特にハンサムではなかったけれど、ちょっと背が高くて、夏の制服の白いシャツが素敵でした。彼はいつもぎりぎりに来たので、私は先にホームに出て改札口のほうを振り返りながら、「あの人が私の隣に来て『おはよう』といってくれないかなあ。」「でも、もし本当にそうなったらどうしよう…。」などと考えていました。

Bởi vì ở thị trấn có nhiều trường cấp 3, nên nhà ga buổi sáng tràn ngập học sinh đang vội vã chạy chen nhau đậu xe đạp. Tôi mỗi sáng đến sớm một chút, háo hức chờ nhìn thấy bóng dáng ai đó. Anh ấy học trên một năm ở một trường cấp 3 khác với tôi, và tôi chưa bao giờ nói chuyện với anh ấy, nhưng không hiểu sao tôi lại không khỏi tò mò về anh ấy. Anh ấy không đẹp trai cho lắm, nhưng dáng hơi cao và trông rất đẹp trong chiếc áo sơ mi trắng của bộ đồng phục mùa hè. Anh ấy luôn đến vào sát giờ, nên tôi tiến vào nhà ga trước, quay đầu nhìn hướng cổng soát vé, vừa thầm nghĩ rằng “liệu anh ấy có đến cạnh mình rồi nói “xin chào” không ta?” “Nhưng nếu thành như thế thật thì sao đây?”.

ある朝私は朝寝坊をして、駅に着いたときにはもう近づいてくる汽車の警笛が聞こえていました。あわてて自転車置き場に自転車を止めているとき、隣にすっと入ってきた自転車は彼のだったのです。私はびっくりしてどきどきしてしまいました。「おはよう。」彼が言いました。「おはよう…ございます…。」私は声は声になりませんでした。急いで改札を通って、一番後ろのドアから汽車に飛び乗りました。私は何か話したかったのですが、何をどう話していいかわからなくて黙っていました。彼も緊張しているのか、私のことなど無視しているのか、黙っていました。汽車の中の人々の目が、私たち二人を見ているような気がして、居ても立ってもいられませんでした。汽車が町についたときにはがっかりしてなきたいような、それでいてほっとしたような気持ちでした。彼と私はちょっと目で挨拶して、それぞれ別の方向へ降りて行きました。次の日からはなぜか駅で彼と一緒になることはありませんでした。

Một buổi sáng, tôi ngủ quên và khi đến ga tôi đã nghe thấy tiếng còi tàu đang đến gần. Khi tôi đang vội vã đậu xe đạp ở chỗ đậu xe đạp thì chiếc xe đạp đi đến sát cạnh tôi là của anh ấy. Tôi giật mình, tim đập nhanh. “Chào buổi sáng,” anh nói. “Chào… buổi sáng…” Tôi nói không nên lời. Tôi vội vã đi qua cổng soát vé và nhảy lên tàu bằng cửa sau. Tôi muốn nói điều gì đó, nhưng lại không biết phải nói gì và nói thế nào, nên tôi im lặng. Anh ấy cũng im lặng, có thể là anh ấy cũng lo lắng hoặc là đang phớt lờ tôi. Tôi đứng ngồi không yên và có cảm giác như ánh mắt của những người trên tàu đang dõi theo cả hai chúng tôi. Khi tàu đến thị trấn, tôi nửa cảm thấy thất vọng muốn khóc nửa lại cảm thấy nhẹ nhõm. Anh ấy và tôi liếc nhìn nhau rồi đi về hai hướng khác nhau. Từ ngày hôm sau trở đi, không hiểu sao tôi chưa bao giờ gặp anh ở nhà ga nữa.

しばらくして、彼が東京の大学に進学したことを人から聞きました。私も次の年に隣の県の学校に進学して村を離れ、そのままそこに残って就職しました。このごろからの便りでは、あの単線は一昨年廃線になってしまったそうです。汽車が来なくなった線路に雑草が生い茂り、小さな駅舎だけがひっそりと建っているそうです。

Một thời gian sau, tôi nghe ai đó nói rằng anh ấy đã vào một trường đại học ở Tokyo. Năm sau tôi cũng rời khỏi làng và vào một trưởng ở tỉnh lân cận, sau đó ở lại làm việc luôn. Tôi nghe nói từ tin tức gần đây, tuyến đường ray đó đã ngừng hoạt động một năm trước. Cỏ dại mọc đầy trên đường ray, nơi đoàn tàu không còn đến nữa, chỉ còn một nhà ga nhỏ đứng lặng lẽ.

Categorized in: